Đặc tính một số môi trường phân lập và chẩn đoán vi khuẩn gây bệnh

ghostnurse



Offline


*

*
Thành viên thử việc

Bài viết:

28
Chủ đề : 10
Gia nhập :Jun 2012

Danh tiếng:

0

Thanks: 0
Given 0 thank(s) in 0 post(s)

Points : 0 USD#1

Cho đến nay, có nhiều loại môi trường khác nhau được dùng cho phân lập và định danh vi khuẩn, và thường được xếp thành 3 loại chủ yếu là: môi trường nuôi cấy cơ bản, môi trường tăng sinh vi khuẩn (có giầu chất dinh dưỡng) và môi trường nuôi cấy chọn lọc. Mỗi loại môi trường sẽ được sử dụng với những mục đích khác nhau trong nuôi cấy, phân lập và định danh vi sinh vật có trong mẫu xét nghiệm của bệnh nhân.

1. MỘT SỐ MÔI TRƯỜNG NUÔI CẤY THÔNG THƯỜNG

1.1. Môi trường Chocolate agar

Môi trường thạch chocolate là môi trường giầu dinh dưỡng và thường được dùng cho vi khuẩn Haemophilus, S.pneumoniae và các loài vi khuẩn khó phát triển khác. Đây là môi trường thạch máu cừu, khi thêm máu cừu vào môi trường cơ bản trong điều kiện nhiệt độ đủ để giải phóng tế bào hồng cầu và nicotinamid – adenin dinucleotid (NAD). Môi trường đổ đĩa được bảo quản ở 40C. Đĩa môi trường đã cấy bệnh phẩm được ủ ấm ở nhiệt độ 350C trong khí trường có 5% CO2, thời gian 18 – 24 giờ, quan sát sự phát triển của vi khuẩn.

1.2. Môi trường Simmons citrate

Môi trường thạch Cimmons citrate được sử dụng cho các trực khuẩn đường ruột gram âm khác nhau. Giống như nguyên lý sử dụng môi trường acetat của vi khuẩn, để phân biệt các loại vi khuẩn người ta dựa vào sự khác biệt do khả năng sử dụng citrate như là nguồn carbon duy nhất của chủng phân lập. Môi trường có pH khoảng 6,9. Ống môi trường sau khi cấy huyền dịch vi khuẩn lên mặt nghiêng, để tủ ấm 35oC, quan sát sự thay đổi trong 4 ngày.

1.3. Môi trường Deoxychocolate citrate

Thạch Deoxychocolate citrate là môi trường chọn lọc, môi trường khác nhau dùng cho phân lập trực tiếp các căn nguyên gây bệnh đường ruột từ phân và bệnh phẩm nước tiểu hoặc gián tiếp từ canh thang giầu dinh dưỡng như selenite-F. Các thành phần chọn lọc có trong môi trường như citrate natri và deoxycholate natri đã phối hợp với nhau để ức chế các trực khuẩn đường ruột khác mà không phải là căn nguyên gây bệnh nguy hiểm.

Thành phần khác nhau ở đây là lactose, căn nguyên gây bệnh đường ruột không lên men đường sẽ xuất hiện các khuẩn lạc không màu. Nếu lên men đường lactose, xuất hiện những khuẩn lạc chuyển từ màu hồng sang màu đỏ, đó là kết quả của sự thay đổi pH trong quá trình lên men đường lactose.

Cấy khuẩn lạc lên môi trường đổ đĩa, ủ ấm 350C/48 giờ. Chất nuôi cấy mà nhiều như mẫu phân, nước tiểu, hoặc các chất khác của cơ thể thì có thể cấy trực tiếp vào môi trường, ngược lại nếu chất nuôi cấy ít thì nên làm thêm một bước là cấy vào môi trường tăng sinh trước rồi mới cấy vào môi trường chọn lọc.

1.4. Môi trường Kligler Iron Agar (KIA)

Môi trường thạch Kligler Iron Agar được sử dụng để nuôi cấy trực tiếp cho trực khuẩn gram âm lên men đường glucose, đây là đặc điểm cơ bản trong phân loại bước đầu của các trực khuẩn gram âm. Môi trường này cũng đồng thời thử tính lên men đường lactose, sinh hơi trong quá trình lên men carbohydrat và sinh H2S. Tất cả những đặc điểm đó đã được sử dụng cho các trực khuẩn gram âm thuộc họ vi khuẩn đường ruột.

Môi trường KIA gồm glucose và lactose (có thể lên men carbohydrat), đỏ phenol (chỉ thị pH), pepton (nguồn carbon/nitrogen) và muối sắt cộng với thiosulfate natri. Có 3 hình thái lên men carbohydrat có thể xảy ra là:

– Acid (màu vàng) phần gốc và kiềm (màu đỏ) phần nghiêng của môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật lên men đường glucose nhưng không lên men đường lactose.

– Acid (màu vàng) phần gốc và acid (màu vàng) phần nghiêng của môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật lên men cả đường glucose và đường lactose.

– Kiềm (màu đỏ) phần gốc và kiềm (màu đỏ) phần nghiêng môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật không thể lên men đường glucose và đường lactose. Các sản phẩm sinh ra không phải là sản phẩm acid.

Nếu sinh hơi, có hơi ở phần gốc của ống môi trường, môi trường bị chia cắt hoặc đẩy môi trường lên khỏi đáy ống. Nếu thấy màu đen ở phần gốc ống, vi sinh vật đã sinh ra hydrogen sulfid gas từ thiosulfid. Phản ứng được đọc sau khi nuôi cấy từ 18 – 24 giờ, nếu môi trường được đọc quá sớm, vi sinh vật chỉ có thể lên men đường glucose. Nếu đọc qua muộn, các chất gây men lactose có thể dùng hết lactose và bắt đầu dị hoá pepton, phần nghiêng của môi trường trở lại màu đỏ.

1.5. Môi trường MacConkey Agar

Thạch MacConkey là môi trường chọn lọc cho các vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột và các trực khuẩn gram âm khác có trong một quần thể hỗn tạp và phân biệt chúng có lên men lactose hay không lên men lactose. Muối mật và tinh thể màu tím ức chế hầu hết các vi sinh vật gram dương nhưng cho phép các trực khuẩn gram âm mọc được. Đường lactose như một nguồn cung cấp carbohydrat duy nhất. Trực khuẩn gram âm, nếu lên men lactose sẽ sinh ra khuẩn lạc màu hồng hoặc đỏ. Ngược lại, nếu không lên men lactose thì khuẩn lạc không có màu hoặc khuẩn lạc có màu trong.

Sau khi đã cấy vi khuẩn lên đĩa môi phân lập, đặt vào tủ ấm 350C, thời gian từ 18 – 24 giờ. Vi khuẩn có thể lên men lactose mạnh hoặc yếu, sau 24 giờ nuôi cấy sinh ra những khuẩn lạc có màu hoặc xuất hiện màu hồng nhẹ sau 24 – 48 giờ. Không nuôi cấy kéo dài quá 48 giờ, như thế có thể làm đảo lộn kết quả.

Thạch MacConkey Sorbitol, có chứa các thành phần giống như thạch MacConkey thông thường khác nhưng có thêm D-sorbitol. Môi trường này được dùng cho phân lập E.coli O157:H7.

1.6. Môi trường Mueller-Hinton Agar

Môi trường thạch Mueller-Hinton Agar là môi trường trong, dùng cho thử nghiệm tính nhạy cảm của vi sinh vật với kháng sinh. Môi trường cũng thường được dùng để thử nghiệm sự thuỷ phân tinh bột. Thạch Mueller-Hinton có chứa hỗn dịch động vật, casamino acid và tinh bột giúp cho hầu hết các vi sinh vật phát triển. Hơn nữa, có thể cho thêm máu cừu vào công thức cơ bản để thực hiện thử nghiệm tính nhạy cảm của chủng Streptococci. Khi đun nóng máu cừu tạo thành chocolate với thạch Mueller-Hinton thì có thể thử nghiệm với các vi sinh vật khó mọc, như Heamophilus và Neisseria.

1.7. Môi trường dinh dưỡng (Nutrient Agar)

Môi trường thạch dinh dưỡng được sử dụng để phân biệt giữa một số ít loài Neisseria dễ mọc với các loài Neisseria khác, như N.gonorrhoeae và N.meningitidis. Số ít loài Neisseriae dễ mọc thì phát triển được trên môi trường thạch dinh dưỡng, ngược lại có nhiều loài không phát triển được. Thạch dinh dưỡng cũng thường được dùng làm môi trường lưu giữ chủng. Thạch dinh dưỡng có chứa các chất dinh dưỡng động vật và đặc biệt là hàm lượng protein thấp. Chủng phân lập nào phát triển được trên môi trường này thì cũng có nghĩa là chủng đó rất dễ mọc và không đòi hỏi bất cứ thành phần đặc biệt nào.

1.8. Môi trường Oxydative-Fermentative (OF)

Môi trường thạch Oxydative-Fermentative hoặc OF là môi trường luôn được dùng để xác định cách sử dụng carbonhydrat của vi sinh vật là kiểu oxy hoá, lên men hoặc trơ. Đây là môi trường rất quan trọng để định danh các trực khuẩn gram âm không lên men đường glucose như: Pseudomonas, Acinetobacter spp .

Môi trường có chứa một lượng nhỏ pepton để ngăn cản sự tạo thành sản phẩm kiềm, vì các sản phẩm này có thể trung hoà một lượng nhỏ sản phẩm acid qua quá trình oxy hoá. Lượng lớn carbonhydrat trong môi trường đã làm tăng số lượng acid mà nó có thể tạo thành. Môi trường cũng có lượng nhỏ thạch để tạo cho môi trường không rắn cũng không lỏng, tạo điều kiện cho phép acid tạo thành trên bề mặt và khuếch tán qua môi trường. Màu xanh bromthymol như chỉ thị màu pH để phát hiện acid.

1.9. Môi trường thử nghiệm tính di động

Mục đích của môi trường thử tính di động là để xác định một vi khuẩn có thể di động được hay không. Đây là thử nghiệm đặc biệt dùng cho định danh các thành viên của họ vi khuẩn đường ruột, thường cho 2 loại Shigella và Klebsiella luôn không di động, và các loài Yersinia chắc chắn di động ở nhiệt độ phòng nhưng không di động ở 350C.

Các vi khuẩn không di động là do không có lông roi, chỉ phát triển ở trong đường cấy và xung quanh môi trường trong. Các vi sinh vật di động, đã sử dụng lông roi để di chuyển ra ngoài của đường cấy và xuất hiện mờ khói trong môi trường. Lượng thạch trong môi trường thấp làm cho môi trường không lỏng, không cứng để cho phép phát hiện di động tốt nhất.

Dùng đầu que cấy chọc thẳng vào môi trường, thận trong di chuyển đầu que cấy trên 1 đường, không chọc que cấy xuông tận đáy tupe. Ủ môi trường nuôi cấy ở 350C. Bản chất lông roi là protein, do vậy không tạo thành tốt ở nhiệt độ cao, một số nhà sinh vật học thích ủ ở nhiệt độ từ 18 – 200C.

1. 10. Môi trường thạch Salmonella- Shigella (SS Agar)

Thạch Salmonella- Shigella thường dùng để chọn lọc Salmonella và một vài chủng Shigella từ mẫu xét nghiệm phân. Những vi sinh vật này được phân biệt trên môi trường thạch SS bằng đặc điểm khuẩn lạc trên môi trường. Thành phần môi trường SS có chứa muối mật, natri citrate và xanh brillian, để ức chế các trực khuẩn gram dương và rất nhiều trực khuẩn lên men đường lactose thông thường khác tìm thấy trong phân. Nếu một vi sinh vật phát triển trên môi trường và lên men lactose, thì nó sẽ sinh ra acid và thay đổi thành màu đỏ – hồng. Nếu thiosulfate natri tham gia vào như một nguồn sulfur cho quá trình sinh ra hydrogen sulfid. Nếu hydrogen sulfid hiện diện trong môi trường thì sẽ tạo thành chất kết tủa màu đen ở giữa khuẩn lạc.

Khuẩn lạc Shigella xuất hiện không màu trên môi trường SS, vì những vi sinh vật này không lên men đường lactose hoặc sinh hydrogen sulfid. Khuẩn lạc Salmonella không màu và có điểm đen ở giữa khuẩn lạc, vì vi khuẩn này to lên hydrogen sulfid nhưng không lên men đường lactose. Khuẩn lạc chuyển từ màu hồng đến màu đỏ cho thấy sinh vật lên men đường lactose, nếu có màu đen ở giữa thì đó cũng sinh ra hydrogen sulfid. Nếu Proteus phát triển trên môi trường này thì khả năng tạo thành những đám sẽ bị hạn chế.

1. 11. Môi trường Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose (TCBS)

Môi trường thạch Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose là môi trường chọn lọc dùng để phân lập các loài Vibrio từ mẫu xét nghiệm phân có lẫn với vi khuẩn chí khác. Các loài Vibrio được phân biệt bằng đặc điểm do khuẩn lạc sinh ra trên môi trường. Các kiểu khuẩn lạc khác nhau được sinh ra từ các loài Vibrio khác nhau, thể hiện qua sự lên men của sucrose. Ví dụ: V.cholerae và V. alginolyticus sinh ra các khuẩn lạc màu vàng, vì chúng lên men đường sucrose, ngược lại V. parahaemolyticus và V.vulniticus luôn sinh ra khuẩn lạc màu xanh do thiếu lên men sucrose. Vi sinh vật Vibrio không sinh ra hydrogen sulfid.

Khi dùng thạch TCBS, chúng ta nên dùng chất nuôi cấy đặc, những loài Vibrio dễ chết đột ngột và môi trường này có để ngăn chặn được điều đó. Mẫu xét nghiệm tươi là tốt nhất, vì vi sinh vật này nhạy cảm với điều kiện khô, ánh sáng và pH acid. Nếu xử lý chậm thì nên sử dụng môi trường Cary-Blair để vận chuyển bệnh phẩm tốt hơn là môi trường vận chuyển có đệm glycerol. Đĩa môi trường nuôi cấy nên ủ ở nhiệt độ 350C, thời gian từ 18 – 24 giờ, dài nhất là 48 giờ. Không lấy khuẩn lạc ở môi trường TCBS để làm thử nghiệm oxydase.

1.12. Môi trường Esculin Agar

Môi trường thạch esculin là môi trường phân biệt khả năng thủy phân esculin của vi khuẩn. Những sản phẩm thuỷ phân từ phản ứng esculin với muối sắt có trong môi trường gây ra kết tủa các thành phần iron, và sản phẩm của sự kết tủa đó làm đổi màu của môi trường từ màu xám tới màu đen. Cấy vi khuẩn lên phần nghiêng của môi trường, ủ ở 350C trong điều kiện hiếu khí và quan sát sự phát triển, môi trường có màu đen cho thấy có sự thủy phân esculin.

1.13. Môi trường Methyl Red-Voges-Proskauer (MR-VP)

Môi trường canh thang MRVP dùng cho các thử nghiệm đỏ methyl và Voges-Proskauer. Quy trình này dùng để phân biệt các thành viên thuộc họ Enterobacteriaceae (họ vi khuẩn đường ruột), ví dụ: E.coli, đỏ methyl dương và Voges-Proskauer âm; Enterobacter aerogene và Klebsiella pneumoniae cho các phản ứng ngược lại. Các thành viên thuộc họ vi khuẩn đường ruột được chia thành 2 nhóm dựa trên cách chuyển hoá đường glucose. Một nhóm sản sinh ra một lượng lớn hỗn hợp acid (lactic, formic, succinic, acetic). Khi cho thuốc thử đỏ methyl vào một trong các vi khuẩn thuộc nhóm này, màu đỏ xuất hiện do pH có tính acid. Nhóm thứ 2 sản sinh chủ yếu các sản phẩm trung tính, acetoin hoặc acetyl-methylcarbinol.

Thử nghiệm đỏ methyl, canh khuẩn phải được ủ ấm 48 giờ. Lấy vào mỗi ống nghiệm 0,5 đến 1 ml canh khuẩn, ủ 350C, thời gian 18 – 24 giờ là có thể thực hiện được thử nghiệm. Trong quá trình thử nghiệm, lắc ống nghiệm để canh khuẩn hấp thụ oxy và tăng thêm phản ứng.

1.14. Môi trường Blood Agar

Môi trường thạch máu (Blood Agar) là môi trường thường xuyên dùng để nuôi cấy các vi khuẩn không khó mọc lắm. Môi trường được pha chế hoặc thạch triptic soy cơ bản được làm giầu thêm bằng cách thêm 5 – 10% máu cừu, máu thỏ hoặc máu người đã phá vỡ sợi fibrin. Sự kết hợp của máu không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn phát triển mà còn cho phép phát hiện đặc tính tan máu của vi khuẩn.

1.15. Môi trường Mannitol Sald Agar

Môi trường thạch Mannitol là môi trường nuôi cấy chọn lọc cơ bản dùng để tăng sinh và định danh Staphylococci từ mẫu xét nghiệm có lẫn với vi khuẩn chí khác. Đậm độ muối cao (7,5%) có tác dụng ức chế hầu hết vi khuẩn gram âm và gram dương trừ Staphylococcus spp. Vi khuẩn Staphylococcus aureus có khả năng lên men đường mannitol, sinh ra sản phẩm acid làm pH của môi trường giảm, phenol từ màu đỏ chuyển sang màu vàng, khuẩn lạc điển hình của Staphylococcus aureus xuất hiện màu vàng. Những loài Staphylococcus và Micrococcus khác thường không lên men đường mannitol, do đó sinh ra khuẩn lạc màu hơi đỏ.

Sau khi cấy vi khuẩn lên đĩa môi trường, ủ ấm 350C trong khí trường không có CO2, thời gian 24 – 48 giờ. Một số chủng Staphylococcus aureus có thể lên men đường mannitol chậm, do vậy không nên loại bỏ môi trường đã nuôi cấy trong vòng 48 giờ. Các chủng nghĩ đến là S.aureus cần được làm thêm các thử nghiệm như coagulase hoặc bằng một thường quy chuẩn khác.

1.16. Môi trường Selenite F

Canh thang Selenite F là môi trường tăng sinh cho số ít thành viên của Salmonella và một vài chủng Shigella từ phân và mẫu xét nghiệm chứa số lượng lớn vi sinh vật ô hợp. Môi trường có Selenite natri đã ức chế rất nhiều trực khuẩn gram âm và cầu khuẩn đường ruột (Enterococci) nhưng cho phép tăng sinh Salmonella và một vài loài Shigella. Selenite hiệu quả nhất là trung hoà pH, trong quá trình phát triển của vi khuẩn đã làm giảm Selenite, các sản phẩm kiềm hoá đã được sinh ra, cho nên đường lactose cũng có trong môi trường này. Các chất lên men đường lactose sinh ra acid, và các sản phẩm kiềm được trung hoà và trở lại môi trường để trung hoà pH.

1.17. Môi trường Thayer-Martin, Modified (MTM)

Thạch Modified Thayer-Martin là môi trường giầu dinh dưỡng dùng để tăng sinh Neisseria gonorrhoeae và N. meningitidis từ mẫu xét nghiệm có các vi khuẩn chí ô hợp. Môi trường thạch Modified Thayer-Martin giầu dinh dưỡng, do vậy nhiều loài Neisseria khó mọc cũng có thể phát triển được. Môi trường có các yếu tố phát triển như hemoglobin, vitamin, cocarboxylase, diphosphopyridin nucleotid và glutamin.

Công thức của Modified chứa nhiều thạch để ngăn chặn sự lan toả của proteus. Thạch Modified Thayer-Martin có chứa một số kháng thể, ức chế vi khuẩn chí thông thường và ngăn chặn sự phát triển của hầu hết các vi khuẩn như vancomycin ức chế cầu khuẩn gram dương phát triển, colistin ức chể trực khuẩn gram âm và nistatin ngăn chặn sự phát triển của nấm. Đĩa môi trường MTM sau khi đã cấy vi khuẩn, được ủ ấm trong khí trường có CO2 hoặc bình nến trong vài ngày.

1.18. Môi trường Peptone-Yeast Extract-Glucose (PYG)

Canh thang Peptone-Yeast Extract-Glucose là môi trường được dùng cho nuôi cấy vi khuẩn. Có thể dùng thường quy ghi sắc ký lỏng để phát hiện các sản phẩm chuyển hoá cuối cùng trong canh cấy PYG phân lập vi khuẩn kỵ khí. Canh thang PYG có chưa một số chất dinh dưỡng và thành phần bổ sung để kích thích vi khuẩn kỵ khí phát triển. Thành phần dinh dưỡng gồm vitamin K (cho sinh sắc tố Prevotella và Porphyromonas), cao men, hemin và glucose. Chất Resazurin đáp ứng như chất chỉ thị vi khuẩn kỵ khí. Khi môi trường xuất hiện màu hồng nghĩa là có hiện diện của oxy.

1.19. Môi trường Lowenstein-Jensen (LJ)

Môi trường Lowenstein-Jensenđược dùng để nuôi cấy Mycobacterium spp. Trong môi trường hầu hết có chứa thành phần có thể ức chế sự phát triển của Mycobacteria. Bột khoai tây, trứng và glycerol có trong môi trường LJ có tác dụng giúp khử độc môi trường này, đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho vi khuẩn này phát triển. Môi trường LJ đảm bảo tốt trong 1 tháng nếu vặn chặt nắp, để nơi khô ráo và nhiệt độ từ 4 – 60C. Môi trường LJ cũng phải được giữ ở nơi tối, vì xanh malachite rất nhạy với ánh sáng. Bệnh phẩm đã được nuôi cấy lên môi trường, ủ ấm trong khí trường CO2 (5 – 10%), từ 6 – 10 tuần. Một điều quan trọng là phải nới lỏng nắp để cho thay đổi không khí bên trong.

2. CÁC THỬ NGHIỆM TRÊN MÔI TRƯỜNG THÔNG THƯỜNG

Môi trường nuôi cấy có thể được chuẩn bị từ những thành phần riêng hoặc chuẩn bị từ môi trường dưới dạng bột khô đã được thương mại hoá. Ngày nay, môi trường dạng bột khô được thương mại hoá đã trở lên phổ biến tại các phòng thí nghiệm vi khuẩn lâm sàng. Một số điểm quan trọng để kiểm soát chất lượng của môi trường như sau:

– Không dùng môi trường đã hết hạn sử dụng;

– Hộp môi trường cần được vặn chặt bằng nắp để tránh ẩm;
– Giữ môi trường vào nơi tối, thoáng khí, mát;

– Không sử dụng môi trường dạng bột khô đã bị ngả màu hoặc vón cục. Thường xuyên đảo môi trường dự trữ theo nguyên tắc: ngoài vào, trong ra.

– Khi chuẩn bị môi trường cần phải tuân thủ nghiêm ngặt chỉ dẫn của nhà sản xuất.

– Không để môi trường đã được pha chế ở ngoài ánh sáng và nhiệt độ phòng.

– Kiểm tra độ tiệt trùng và pH của môi trường đã chuẩn bị.

Theo : st
Trong phòng thí nghiệm y tế, để phân lập và định danh vi trùng gây bệnh cần phải sử dụng đến nhiều loại môi trường nuôi cấy và hoá chất thích hợp cho 1 số ít thử nghiệm, đặc biệt quan trọng là thử nghiệm sinh hoá. Bên cạnh đó, việc nhìn nhận chất lượng pha chế môi trường đúng quy cách cũng là một trong những khâu quan trọng trong công tác làm việc xét nghiệm vi trùng. Cho đến nay, có nhiều loại môi trường khác nhau được dùng cho phân lập và định danh vi trùng, và thường được xếp thành 3 loại đa phần là : môi trường nuôi cấy cơ bản, môi trường tăng sinh vi trùng ( có giầu chất dinh dưỡng ) và môi trường nuôi cấy tinh lọc. Mỗi loại môi trường sẽ được sử dụng với những mục tiêu khác nhau trong nuôi cấy, phân lập và định danh vi sinh vật có trong mẫu xét nghiệm của bệnh nhân. 1.1. Môi trường Chocolate agarMôi trường thạch chocolate là môi trường giầu dinh dưỡng và thường được dùng cho vi trùng Haemophilus, S.pneumoniae và những loài vi trùng khó tăng trưởng khác. Đây là môi trường thạch máu cừu, khi thêm máu cừu vào môi trường cơ bản trong điều kiện kèm theo nhiệt độ đủ để giải phóng tế bào hồng cầu và nicotinamid – adenin dinucleotid ( NAD ). Môi trường đổ đĩa được dữ gìn và bảo vệ ở 40C. Đĩa môi trường đã cấy bệnh phẩm được ủ ấm ở nhiệt độ 350C trong khí trường có 5 % CO2, thời hạn 18 – 24 giờ, quan sát sự tăng trưởng của vi trùng. 1.2. Môi trường Simmons citrateMôi trường thạch Cimmons citrate được sử dụng cho những trực khuẩn đường ruột gram âm khác nhau. Giống như nguyên tắc sử dụng môi trường acetat của vi trùng, để phân biệt những loại vi trùng người ta dựa vào sự độc lạ do năng lực sử dụng citrate như là nguồn carbon duy nhất của chủng phân lập. Môi trường có pH khoảng chừng 6,9. Ống môi trường sau khi cấy huyền dịch vi trùng lên mặt nghiêng, để tủ ấm 35 oC, quan sát sự biến hóa trong 4 ngày. 1.3. Môi trường Deoxychocolate citrateThạch Deoxychocolate citrate là môi trường tinh lọc, môi trường khác nhau dùng cho phân lập trực tiếp những căn nguyên gây bệnh đường ruột từ phân và bệnh phẩm nước tiểu hoặc gián tiếp từ canh thang giầu dinh dưỡng như selenite-F. Các thành phần tinh lọc có trong môi trường như citrate natri và deoxycholate natri đã phối hợp với nhau để ức chế những trực khuẩn đường ruột khác mà không phải là căn nguyên gây bệnh nguy khốn. Thành phần khác nhau ở đây là lactose, căn nguyên gây bệnh đường ruột không lên men đường sẽ Open những khuẩn lạc không màu. Nếu lên men đường lactose, Open những khuẩn lạc chuyển từ màu hồng sang màu đỏ, đó là tác dụng của sự đổi khác pH trong quy trình lên men đường lactose. Cấy khuẩn lạc lên môi trường đổ đĩa, ủ ấm 350C / 48 giờ. Chất nuôi cấy mà nhiều như mẫu phân, nước tiểu, hoặc những chất khác của khung hình thì hoàn toàn có thể cấy trực tiếp vào môi trường, ngược lại nếu chất nuôi cấy ít thì nên làm thêm một bước là cấy vào môi trường tăng sinh trước rồi mới cấy vào môi trường tinh lọc. 1.4. Môi trường Kligler Iron Agar ( KIA ) Môi trường thạch Kligler Iron Agar được sử dụng để nuôi cấy trực tiếp cho trực khuẩn gram âm lên men đường glucose, đây là đặc thù cơ bản trong phân loại trong bước đầu của những trực khuẩn gram âm. Môi trường này cũng đồng thời thử tính lên men đường lactose, sinh hơi trong quy trình lên men carbohydrat và sinh H2S. Tất cả những đặc thù đó đã được sử dụng cho những trực khuẩn gram âm thuộc họ vi trùng đường ruột. Môi trường KIA gồm glucose và lactose ( hoàn toàn có thể lên men carbohydrat ), đỏ phenol ( thông tư pH ), pepton ( nguồn carbon / nitrogen ) và muối sắt cộng với thiosulfate natri. Có 3 hình thái lên men carbohydrat hoàn toàn có thể xảy ra là : – Acid ( màu vàng ) phần gốc và kiềm ( màu đỏ ) phần nghiêng của môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật lên men đường glucose nhưng không lên men đường lactose. – Acid ( màu vàng ) phần gốc và acid ( màu vàng ) phần nghiêng của môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật lên men cả đường glucose và đường lactose. – Kiềm ( màu đỏ ) phần gốc và kiềm ( màu đỏ ) phần nghiêng môi trường, khi đó cho thấy vi sinh vật không hề lên men đường glucose và đường lactose. Các loại sản phẩm sinh ra không phải là mẫu sản phẩm acid. Nếu sinh hơi, có hơi ở phần gốc của ống môi trường, môi trường bị chia cắt hoặc đẩy môi trường lên khỏi đáy ống. Nếu thấy màu đen ở phần gốc ống, vi sinh vật đã sinh ra hydrogen sulfid gas từ thiosulfid. Phản ứng được đọc sau khi nuôi cấy từ 18 – 24 giờ, nếu môi trường được đọc quá sớm, vi sinh vật chỉ hoàn toàn có thể lên men đường glucose. Nếu đọc qua muộn, những chất gây men lactose hoàn toàn có thể dùng hết lactose và khởi đầu dị hoá pepton, phần nghiêng của môi trường trở lại màu đỏ. 1.5. Môi trường MacConkey AgarThạch MacConkey là môi trường tinh lọc cho những vi trùng thuộc họ vi trùng đường ruột và những trực khuẩn gram âm khác có trong một quần thể hỗn tạp và phân biệt chúng có lên men lactose hay không lên men lactose. Muối mật và tinh thể màu tím ức chế hầu hết những vi sinh vật gram dương nhưng được cho phép những trực khuẩn gram âm mọc được. Đường lactose như một nguồn cung ứng carbohydrat duy nhất. Trực khuẩn gram âm, nếu lên men lactose sẽ sinh ra khuẩn lạc màu hồng hoặc đỏ. Ngược lại, nếu không lên men lactose thì khuẩn lạc không có màu hoặc khuẩn lạc có màu trong. Sau khi đã cấy vi trùng lên đĩa môi phân lập, đặt vào tủ ấm 350C, thời hạn từ 18 – 24 giờ. Vi khuẩn hoàn toàn có thể lên men lactose mạnh hoặc yếu, sau 24 giờ nuôi cấy sinh ra những khuẩn lạc có màu hoặc Open màu hồng nhẹ sau 24 – 48 giờ. Không nuôi cấy lê dài quá 48 giờ, như vậy hoàn toàn có thể làm đảo lộn tác dụng. Thạch MacConkey Sorbitol, có chứa những thành phần giống như thạch MacConkey thường thì khác nhưng có thêm D-sorbitol. Môi trường này được dùng cho phân lập E.coli O157 : H7. 1.6. Môi trường Mueller-Hinton AgarMôi trường thạch Mueller-Hinton Agar là môi trường trong, dùng cho thử nghiệm tính nhạy cảm của vi sinh vật với kháng sinh. Môi trường cũng thường được dùng để thử nghiệm sự thuỷ phân tinh bột. Thạch Mueller-Hinton có chứa hỗn dịch động vật hoang dã, casamino acid và tinh bột giúp cho hầu hết những vi sinh vật tăng trưởng. Hơn nữa, hoàn toàn có thể cho thêm máu cừu vào công thức cơ bản để triển khai thử nghiệm tính nhạy cảm của chủng Streptococci. Khi đun nóng máu cừu tạo thành chocolate với thạch Mueller-Hinton thì hoàn toàn có thể thử nghiệm với những vi sinh vật khó mọc, như Heamophilus và Neisseria. 1.7. Môi trường dinh dưỡng ( Nutrient Agar ) Môi trường thạch dinh dưỡng được sử dụng để phân biệt giữa một số ít ít loài Neisseria dễ mọc với những loài Neisseria khác, như N.gonorrhoeae và N.meningitidis. Số ít loài Neisseriae dễ mọc thì tăng trưởng được trên môi trường thạch dinh dưỡng, ngược lại có nhiều loài không tăng trưởng được. Thạch dinh dưỡng cũng thường được dùng làm môi trường lưu giữ chủng. Thạch dinh dưỡng có chứa những chất dinh dưỡng động vật hoang dã và đặc biệt quan trọng là hàm lượng protein thấp. Chủng phân lập nào tăng trưởng được trên môi trường này thì cũng có nghĩa là chủng đó rất dễ mọc và không yên cầu bất kể thành phần đặc biệt quan trọng nào. 1.8. Môi trường Oxydative-Fermentative ( OF ) Môi trường thạch Oxydative-Fermentative hoặc OF là môi trường luôn được dùng để xác lập cách sử dụng carbonhydrat của vi sinh vật là kiểu oxy hoá, lên men hoặc trơ. Đây là môi trường rất quan trọng để định danh những trực khuẩn gram âm không lên men đường glucose như : Pseudomonas, Acinetobacter spp. Môi trường có chứa một lượng nhỏ pepton để ngăn cản sự tạo thành loại sản phẩm kiềm, vì những mẫu sản phẩm này hoàn toàn có thể trung hoà một lượng nhỏ loại sản phẩm acid qua quy trình oxy hoá. Lượng lớn carbonhydrat trong môi trường đã làm tăng số lượng acid mà nó hoàn toàn có thể tạo thành. Môi trường cũng có lượng nhỏ thạch để tạo cho môi trường không rắn cũng không lỏng, tạo điều kiện kèm theo được cho phép acid tạo thành trên mặt phẳng và khuếch tán qua môi trường. Màu xanh bromthymol như chỉ thị màu pH để phát hiện acid. 1.9. Môi trường thử nghiệm tính di độngMục đích của môi trường thử tính di động là để xác lập một vi trùng hoàn toàn có thể di động được hay không. Đây là thử nghiệm đặc biệt quan trọng dùng cho định danh những thành viên của họ vi trùng đường ruột, thường cho 2 loại Shigella và Klebsiella luôn không di động, và những loài Yersinia chắc như đinh di động ở nhiệt độ phòng nhưng không di động ở 350C. Các vi trùng không di động là do không có lông roi, chỉ tăng trưởng ở trong đường cấy và xung quanh môi trường trong. Các vi sinh vật di động, đã sử dụng lông roi để chuyển dời ra ngoài của đường cấy và Open mờ khói trong môi trường. Lượng thạch trong môi trường thấp làm cho môi trường không lỏng, không cứng để cho phép phát hiện di động tốt nhất. Dùng đầu que cấy chọc thẳng vào môi trường, thận trong vận động và di chuyển đầu que cấy trên 1 đường, không chọc que cấy xuông tận đáy tupe. Ủ môi trường nuôi cấy ở 350C. Bản chất lông roi là protein, do vậy không tạo thành tốt ở nhiệt độ cao, 1 số ít nhà sinh vật học thích ủ ở nhiệt độ từ 18 – 200C. 1. 10. Môi trường thạch Salmonella – Shigella ( SS Agar ) Thạch Salmonella – Shigella thường dùng để tinh lọc Salmonella và một vài chủng Shigella từ mẫu xét nghiệm phân. Những vi sinh vật này được phân biệt trên môi trường thạch SS bằng đặc thù khuẩn lạc trên môi trường. Thành phần môi trường SS có chứa muối mật, natri citrate và xanh brillian, để ức chế những trực khuẩn gram dương và rất nhiều trực khuẩn lên men đường lactose thường thì khác tìm thấy trong phân. Nếu một vi sinh vật tăng trưởng trên môi trường và lên men lactose, thì nó sẽ sinh ra acid và đổi khác thành màu đỏ – hồng. Nếu thiosulfate natri tham gia vào như một nguồn sulfur cho quy trình sinh ra hydrogen sulfid. Nếu hydrogen sulfid hiện hữu trong môi trường thì sẽ tạo thành chất kết tủa màu đen ở giữa khuẩn lạc. Khuẩn lạc Shigella Open không màu trên môi trường SS, vì những vi sinh vật này không lên men đường lactose hoặc sinh hydrogen sulfid. Khuẩn lạc Salmonella không màu và có điểm đen ở giữa khuẩn lạc, vì vi trùng này to lên hydrogen sulfid nhưng không lên men đường lactose. Khuẩn lạc chuyển từ màu hồng đến màu đỏ cho thấy sinh vật lên men đường lactose, nếu có màu đen ở giữa thì đó cũng sinh ra hydrogen sulfid. Nếu Proteus tăng trưởng trên môi trường này thì năng lực tạo thành những đám sẽ bị hạn chế. 1. 11. Môi trường Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose ( TCBS ) Môi trường thạch Thiosulfate Citrate Bile Salts Sucrose là môi trường tinh lọc dùng để phân lập những loài Vibrio từ mẫu xét nghiệm phân có lẫn với vi trùng chí khác. Các loài Vibrio được phân biệt bằng đặc thù do khuẩn lạc sinh ra trên môi trường. Các kiểu khuẩn lạc khác nhau được sinh ra từ những loài Vibrio khác nhau, bộc lộ qua sự lên men của sucrose. Ví dụ : V.cholerae và V. alginolyticus sinh ra những khuẩn lạc màu vàng, vì chúng lên men đường sucrose, ngược lại V. parahaemolyticus và V.vulniticus luôn sinh ra khuẩn lạc màu xanh do thiếu lên men sucrose. Vi sinh vật Vibrio không sinh ra hydrogen sulfid. Khi dùng thạch TCBS, tất cả chúng ta nên dùng chất nuôi cấy đặc, những loài Vibrio dễ chết bất thần và môi trường này có để ngăn ngừa được điều đó. Mẫu xét nghiệm tươi là tốt nhất, vì vi sinh vật này nhạy cảm với điều kiện kèm theo khô, ánh sáng và pH acid. Nếu giải quyết và xử lý chậm thì nên sử dụng môi trường Cary-Blair để luân chuyển bệnh phẩm tốt hơn là môi trường luân chuyển có đệm glycerol. Đĩa môi trường nuôi cấy nên ủ ở nhiệt độ 350C, thời hạn từ 18 – 24 giờ, dài nhất là 48 giờ. Không lấy khuẩn lạc ở môi trường TCBS để làm thử nghiệm oxydase. 1.12. Môi trường Esculin AgarMôi trường thạch esculin là môi trường phân biệt năng lực thủy phân esculin của vi trùng. Những mẫu sản phẩm thuỷ phân từ phản ứng esculin với muối sắt có trong môi trường gây ra kết tủa những thành phần iron, và mẫu sản phẩm của sự kết tủa đó làm đổi màu của môi trường từ màu xám tới màu đen. Cấy vi trùng lên phần nghiêng của môi trường, ủ ở 350C trong điều kiện kèm theo hiếu khí và quan sát sự tăng trưởng, môi trường có màu đen cho thấy có sự thủy phân esculin. 1.13. Môi trường Methyl Red-Voges-Proskauer ( MR-VP ) Môi trường canh thang MRVP dùng cho những thử nghiệm đỏ methyl và Voges-Proskauer. Quy trình này dùng để phân biệt những thành viên thuộc họ Enterobacteriaceae ( họ vi trùng đường ruột ), ví dụ : E.coli, đỏ methyl dương và Voges-Proskauer âm ; Enterobacter aerogene và Klebsiella pneumoniae cho những phản ứng ngược lại. Các thành viên thuộc họ vi trùng đường ruột được chia thành 2 nhóm dựa trên cách chuyển hoá đường glucose. Một nhóm sản sinh ra một lượng lớn hỗn hợp acid ( lactic, formic, succinic, acetic ). Khi cho thuốc thử đỏ methyl vào một trong những vi trùng thuộc nhóm này, màu đỏ Open do pH có tính acid. Nhóm thứ 2 sản sinh hầu hết những mẫu sản phẩm trung tính, acetoin hoặc acetyl-methylcarbinol. Thử nghiệm đỏ methyl, canh khuẩn phải được ủ ấm 48 giờ. Lấy vào mỗi ống nghiệm 0,5 đến 1 ml canh khuẩn, ủ 350C, thời hạn 18 – 24 giờ là hoàn toàn có thể triển khai được thử nghiệm. Trong quy trình thử nghiệm, lắc ống nghiệm để canh khuẩn hấp thụ oxy và tăng thêm phản ứng. 1.14. Môi trường Blood AgarMôi trường thạch máu ( Blood Agar ) là môi trường liên tục dùng để nuôi cấy những vi trùng không khó mọc lắm. Môi trường được pha chế hoặc thạch triptic soy cơ bản được làm giầu thêm bằng cách thêm 5 – 10 % máu cừu, máu thỏ hoặc máu người đã phá vỡ sợi fibrin. Sự phối hợp của máu không chỉ cung ứng chất dinh dưỡng cho vi trùng tăng trưởng mà còn được cho phép phát hiện đặc tính tan máu của vi trùng. 1.15. Môi trường Mannitol Sald AgarMôi trường thạch Mannitol là môi trường nuôi cấy tinh lọc cơ bản dùng để tăng sinh và định danh Staphylococci từ mẫu xét nghiệm có lẫn với vi trùng chí khác. Đậm độ muối cao ( 7,5 % ) có công dụng ức chế hầu hết vi trùng gram âm và gram dương trừ Staphylococcus spp. Vi khuẩn Staphylococcus aureus có năng lực lên men đường mannitol, sinh ra loại sản phẩm acid làm pH của môi trường giảm, phenol từ màu đỏ chuyển sang màu vàng, khuẩn lạc nổi bật của Staphylococcus aureus Open màu vàng. Những loài Staphylococcus và Micrococcus khác thường không lên men đường mannitol, do đó sinh ra khuẩn lạc màu hơi đỏ. Sau khi cấy vi trùng lên đĩa môi trường, ủ ấm 350C trong khí trường không có CO2, thời hạn 24 – 48 giờ. Một số chủng Staphylococcus aureus hoàn toàn có thể lên men đường mannitol chậm, do vậy không nên vô hiệu môi trường đã nuôi cấy trong vòng 48 giờ. Các chủng nghĩ đến là S.aureus cần được làm thêm những thử nghiệm như coagulase hoặc bằng một thường quy chuẩn khác. 1.16. Môi trường Selenite FCanh thang Selenite F là môi trường tăng sinh cho số ít thành viên của Salmonella và một vài chủng Shigella từ phân và mẫu xét nghiệm chứa số lượng lớn vi sinh vật ô hợp. Môi trường có Selenite natri đã ức chế rất nhiều trực khuẩn gram âm và cầu khuẩn đường ruột ( Enterococci ) nhưng được cho phép tăng sinh Salmonella và một vài loài Shigella. Selenite hiệu suất cao nhất là trung hoà pH, trong quy trình tăng trưởng của vi trùng đã làm giảm Selenite, những loại sản phẩm kiềm hoá đã được sinh ra, vì vậy đường lactose cũng có trong môi trường này. Các chất lên men đường lactose sinh ra acid, và những mẫu sản phẩm kiềm được trung hoà và trở lại môi trường để trung hoà pH. 1.17. Môi trường Thayer-Martin, Modified ( MTM ) Thạch Modified Thayer-Martin là môi trường giầu dinh dưỡng dùng để tăng sinh Neisseria gonorrhoeae và N. meningitidis từ mẫu xét nghiệm có những vi trùng chí ô hợp. Môi trường thạch Modified Thayer-Martin giầu dinh dưỡng, do vậy nhiều loài Neisseria khó mọc cũng hoàn toàn có thể tăng trưởng được. Môi trường có những yếu tố tăng trưởng như hemoglobin, vitamin, cocarboxylase, diphosphopyridin nucleotid và glutamin. Công thức của Modified chứa nhiều thạch để ngăn ngừa sự lan toả của proteus. Thạch Modified Thayer-Martin có chứa một số ít kháng thể, ức chế vi trùng chí thường thì và ngăn ngừa sự tăng trưởng của hầu hết những vi trùng như vancomycin ức chế cầu khuẩn gram dương tăng trưởng, colistin ức chể trực khuẩn gram âm và nistatin ngăn ngừa sự tăng trưởng của nấm. Đĩa môi trường MTM sau khi đã cấy vi trùng, được ủ ấm trong khí trường có CO2 hoặc bình nến trong vài ngày. 1.18. Môi trường Peptone-Yeast Extract-Glucose ( PYG ) Canh thang Peptone-Yeast Extract-Glucose là môi trường được dùng cho nuôi cấy vi trùng. Có thể dùng thường quy ghi sắc ký lỏng để phát hiện những loại sản phẩm chuyển hoá sau cuối trong canh cấy PYG phân lập vi trùng kỵ khí. Canh thang PYG có chưa một số ít chất dinh dưỡng và thành phần bổ trợ để kích thích vi trùng kỵ khí tăng trưởng. Thành phần dinh dưỡng gồm vitamin K ( cho sinh sắc tố Prevotella và Porphyromonas ), cao men, hemin và glucose. Chất Resazurin cung ứng như chất thông tư vi trùng kỵ khí. Khi môi trường Open màu hồng nghĩa là có hiện hữu của oxy. 1.19. Môi trường Lowenstein-Jensen ( LJ ) Môi trường Lowenstein-Jensenđược dùng để nuôi cấy Mycobacterium spp. Trong môi trường hầu hết có chứa thành phần hoàn toàn có thể ức chế sự tăng trưởng của Mycobacteria. Bột khoai tây, trứng và glycerol có trong môi trường LJ có công dụng giúp khử độc môi trường này, đồng thời cung ứng chất dinh dưỡng cho vi trùng này tăng trưởng. Môi trường LJ bảo vệ tốt trong 1 tháng nếu vặn chặt nắp, để nơi khô ráo và nhiệt độ từ 4 – 60C. Môi trường LJ cũng phải được giữ ở nơi tối, vì xanh malachite rất nhạy với ánh sáng. Bệnh phẩm đã được nuôi cấy lên môi trường, ủ ấm trong khí trường CO2 ( 5 – 10 % ), từ 6 – 10 tuần. Một điều quan trọng là phải thả lỏng nắp để cho biến hóa không khí bên trong. Môi trường nuôi cấy hoàn toàn có thể được sẵn sàng chuẩn bị từ những thành phần riêng hoặc sẵn sàng chuẩn bị từ môi trường dưới dạng bột khô đã được thương mại hoá. Ngày nay, môi trường dạng bột khô được thương mại hoá đã trở lên phổ cập tại những phòng thí nghiệm vi trùng lâm sàng. Một số điểm quan trọng để trấn áp chất lượng của môi trường như sau : – Không dùng môi trường đã hết hạn sử dụng ; – Hộp môi trường cần được vặn chặt bằng nắp để tránh ẩm ; – Giữ môi trường vào nơi tối, thoáng khí, mát ; – Không sử dụng môi trường dạng bột khô đã bị ngả màu hoặc vón cục. Thường xuyên hòn đảo môi trường dự trữ theo nguyên tắc : ngoài vào, trong ra. – Khi sẵn sàng chuẩn bị môi trường cần phải tuân thủ khắt khe hướng dẫn của nhà phân phối. – Không để môi trường đã được pha chế ở ngoài ánh sáng và nhiệt độ phòng. – Kiểm tra độ tiệt trùng và pH của môi trường đã chuẩn bị sẵn sàng .

Source: https://vvc.vn
Category : Môi trường

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Alternate Text Gọi ngay