Nguồn gốc các loài – Wikipedia tiếng Việt

Nguồn gốc các loài (tiếng Anh: On the Origin of Species) của Charles Darwin (xuất bản năm 1859) có thể được coi là một trong các ấn phẩm khoa học tiêu biểu và là tác phẩm nòng cốt của ngành sinh học tiến hóa.[3] Tên đầy đủ của cuốn sách là Về nguồn gốc các loài thông qua chọn lọc tự nhiên, hay việc gìn giữ các chủng ưu thế thông qua cuộc đấu tranh sinh tồn. Cuốn sách giới thiệu giả thuyết cho rằng quần thể các loài tiến hóa qua các thế hệ thông qua một quá trình chọn lọc tự nhiên. Điều này gây tranh cãi vì nó mâu thuẫn với các niềm tin tôn giáo lúc đó đặt bên dưới các giả thuyết về sinh vật học. Quyển sách của Darwin đã là tột đỉnh của bằng chứng mà ông đã tích lũy trước đó trong chuyến đi của Beagle vào thập niên 1830 và được mở rộng ra thông qua các cuộc điều tra và thí nghiệm kể từ khi ông quay về.[4]

Những ý tưởng sáng tạo tiến hóa khác nhau đã được yêu cầu để lý giải những phát hiện mới trong sinh học. Vẫn có sự ủng hộ cho những sáng tạo độc đáo này bên cạnh sự phản đối từ những nhà giải phẫu học ​ ​ và công chúng, nhưng trong nửa đầu của thế kỷ 19, cơ sở khoa học Anh đã gắn liền với Giáo hội Anh Quốc, khi đó, khoa học là một phần của thuyết phiếm thần ( thần học tự nhiên ). Những sáng tạo độc đáo về việc những loài hoàn toàn có thể đổi khác đã gây tranh cãi vì chúng xích míc với niềm tin rằng những loài là không bao giờ thay đổi trong một mạng lưới hệ thống đã được phong cách thiết kế và con người là độc nhất, không hề tương quan đến những loài động vật hoang dã khác. Những hàm ý chính trị và thần học đã được tranh luận can đảm và mạnh mẽ, nhưng quan điểm những loài hoàn toàn có thể biến hóa đã không được đồng ý bởi giới khoa học chính cống .

Cuốn sách được viết cho độc giả không chuyên và thu hút sự quan tâm rộng rãi khi xuất bản. Darwin là một nhà khoa học nổi tiếng, những phát hiện của ông đã được xem xét nghiêm túc và bằng chứng ông đưa ra đã đưa đến các cuộc thảo luận khoa học, triết học và tôn giáo. Cuộc tranh luận về cuốn sách đã góp phần vào chiến dịch của T. H. Huxley và các thành viên khác của Hội X để thế tục hóa khoa học (tức là tập trung vào khoa học hơn là bàn luận triết học và tôn giáo) bằng cách cổ động chủ nghĩa tự nhiên. Trong vòng hai thập kỷ, đã có một sự công nhận rộng rãi trong giới khoa học rằng sự tiến hoá, với các nhánh phát sinh từ tổ tiên, đã diễn ra, nhưng các nhà khoa học đã chậm công nhận chọn lọc tự nhiên mà Darwin cho là thích hợp. Trong thời “Nhật thực của thuyết Darwin” từ những năm 1880 đến những năm 1930, nhiều cơ chế tiến hóa khác được đề xuất và vươn lên. Với sự phát triển của Thuyết tiến hóa tổng hợp hiện đại trong những năm 1930 và 1940, ý tưởng Darwin về sự thích nghia tiến hóa thông qua chọn lọc tự nhiên đã trở thành trung tâm của lý thuyết tiến hóa hiện đại, và bây giờ nó đã trở thành khái niệm thống nhất của khoa học đời sống.

Quyển sách này phù hợp cho cả độc giả không phải là chuyên gia và đã thu hút sự quan tâm rộng rãi khi xuất bản. Cuốn sách đã gây tranh cãi và đã tạo ra nhiều cuộc thảo luận về nền tảng tôn giáo, triết học và khoa học. Tranh cãi tạo hóa-tiến hóa đôi lúc gay gắt vẫn tiếp tục đến ngày nay.

Tổng quan thuyết tiến hóa của Darwin[sửa|sửa mã nguồn]

Lý thuyết tiến hóa của Darwin dựa trên những thực sự quan sát được và những suy luận rút ra từ chúng, nhà sinh vật học Ernst Mayr đã tóm tắt như sau : [ 5 ]

  • Mỗi loài đều có khả năng sinh sản, và nếu tất cả hậu thế của chúng sống sót để sinh sản, quần thể sẽ tăng số lượng (thực tế).
  • Mặc dù có sự biến động theo chu kỳ, các quần thể vẫn có cùng kích thước (thực tế).
  • Ảnh chụp Darwin thời hạn ngắn trước khi xuất bản
  • Do vậy, một cuộc đấu tranh cho sự sống còn xảy ra (suy luận).
  • Các cá thể trong một quần thể rất khác biệt khi so sánh với nhau (thực tế).
  • Phần lớn sự khác nhau này là do di truyền (thực tế).
  • Các cá thể ít thích hợp với môi trường sẽ ít có khả năng sống sót và ít có khả năng sinh sản hơn; các cá thể phù hợp hơn với môi trường có nhiều khả năng sống sót và nhiều khả năng sinh sản và truyền lại các tính trạng di truyền của chúng cho các thế hệ tương lai, tạo ra quá trình chọn lọc tự nhiên (thực tế).
  • Quá trình này có hiệu quả chậm rãi, làm cho quần thể thay đổi để thích ứng với môi trường của chúng, và sau cùng, những sai khác này tích lũy theo thời gian để hình thành các loài mới (suy luận).

Những tăng trưởng trước học thuyết Darwin[sửa|sửa mã nguồn]

Trong lần tái bản sau của cuốn sách, Darwin lần theo những sáng tạo độc đáo về tiến hóa từ thời Aristotle [ 6 ], văn bản mà ông trích dẫn là một bản tóm lược của Aristotle về những sáng tạo độc đáo của triết gia Hy Lạp Empedocles trước đó [ 7 ]. Các giáo phụ Ki-tô giáo thời kỳ đầu và những học giả châu Âu thời Trung cổ diễn giải câu truyện về Sáng thế ra như thể một cách dụ ngôn chứ không phải là một câu truyện lịch sử dân tộc theo nghĩa đen ; [ 8 ] những sinh vật được miêu tả bởi lịch sử một thời và thần thoại cổ xưa cũng nhiều như diễn đạt hình dạng vật lý của chúng. Thiên nhiên được nhiều người tin là không không thay đổi và dịch chuyển, họ cũng tin quỷ dữ sẽ sinh ra của những từ sự tạp chủng giữa những loài, và những thế hệ sống thì hình thành tự phát [ 9 ] .
Bức vẽ của Cuvier về hàm voi hóa thạch ( a ) và voi còn sống ( b ) giúp thiết lập nên trong thực tiễn của tuyệt chủng

Cuộc cải cách Tin lành đã gợi ra việc giải thích Kinh thánh nghĩa đen, các khái niệm về Sáng thế được đưa ra đã mâu thuẫn với những phát hiện của địa hạt khoa học đang nổi lên và đang tìm kiếm cách giải thích thỏa đáng, phù hợp với triết lý cơ học của René Descartes và chủ nghĩa thực nghiệm của phương pháp Bacon. Sau sự hỗn loạn của cuộc Nội chiến Anh, Hiệp hội Hoàng gia muốn cho thấy rằng khoa học không đe dọa sự ổn định tôn giáo và chính trị. John Ray đã phát triển một lý thuyết thần học tự nhiên (thuyết phiếm thần) về trật tự hợp lý; trong cách phân loại của ông, các loài là bất biến và cố định, sự thích nghi và phức tạp của chúng được thiết kế bởi Chúa Trời, và các nòi (thứ) cho thấy sự khác biệt nhỏ là do điều kiện địa phương. Trong thiết kế nhân từ của Thiên Chúa, động vật ăn thịt gây ra cái chết nhanh và nhân từ (tức là không gây đau đớn nhiều), nhưng cái chết kém nhân từ gây ra bởi ký sinh trùng lại là một vấn đề khó hiểu. Phân loại học do Carl Linnaeus đưa ra vào năm 1735 cũng đã xem các loài được cố định theo một “kế hoạch thần thánh”. Năm 1766, Georges Buffon gợi ý rằng một số loài giống nhau, như ngựa, lừa, sư tử, hổ, và báo, có thể là những giống khác nhau có nguồn gốc từ một tổ tiên chung. “Niên sử của Giám mục Ussher” của những năm 1650 đã tính toán rằng Sáng thế diễn ra vào năm 4004 TCN, nhưng trong những năm 1780, các nhà địa chất ngày càng lùi lại ngày Sáng thế (Ví dụ như Buffon đã lùi thêm chục nghìn năm nữa[10]). Wernerian nghĩ rằng địa tầng là các trầm tích từ các vùng biển thu hẹp, nhưng James Hutton đề xuất một chu kỳ kéo dài vô hạn và tự duy trì, dần đưa đến chủ nghĩa thống nhất (có thể đọc thêm trong bài của Lyell).[11]

Ông nội Charles Darwin là Erasmus Darwin đã vạch ra một giả thuyết về chuyển đổi loài từ những năm 1790, và Jean-Baptiste Lamarck đã xuất một lý thuyết phát triển hơn vào năm 1809. Cả hai dự kiến ​​rằng thế hệ tự phát các hình thức đơn giản của sự sống mà dần dần phát triển trở nên phức tạp hơn, thích ứng với môi trường bằng cách thừa kế những thay đổi ở thế hệ trước thông qua sử dụng hoặc không sử dụng (xem bài Lamarck để hiểu rõ hơn). Quá trình này sau đó được gọi là chủ nghĩa Lamarck hay học thuyết Lamarck. Lamarck nghĩ rằng có một xu hướng tiến bộ cố hữu hướng sinh vật liên tục tiến tới phức tạp hơn, song song nhưng tách biệt mà không có sự tuyệt chủng [12]. Geoffroy cho rằng sự phát triển của phôi thai đã tổng hợp các biến đổi của các sinh vật trong các thời kỳ quá khứ khi môi trường tác động lên phôi, và các cấu trúc động vật được xác định bởi một kế hoạch liên tục như được thể hiện bởi các cơ quan tương đồng. Georges Cuvier đã phản đối mạnh mẽ những ý tưởng đó, cho rằng các loài cố định, không liên quan cho thấy những cơ quan tương đồng phản ánh một thiết kế cho các nhu cầu chức năng [13]. Tác phẩm nghiên cứu hoa sthachj của ông vào những năm 1790 đã xác lập thực tế của sự tuyệt chủng, mà ông giải thích bằng thảm hoạ địa phương, theo sau là sự tái tạo lại các khu vực bị thảm họa bởi các loài khác [14].

Ở Anh, tác phẩm Thần học tự nhiên của William Paley đã chứng tỏ sự thích nghi như là bằng chứng của “thiết kế” nhân từ của Đấng Toàn năng hành động thông qua các luật tự nhiên. Tất cả các nhà tự nhiên học ở hai trường đại học Anh Quốc (Oxford và Cambridge) là các giáo sĩ của Giáo hội Anh, và khoa học đã trở thành một tìm kiếm các luật này.[15] Các nhà địa chất đã thích nghi thuyết thảm họa để chứng minh có sự hủy diệt luân phiên trên toàn cầu và tạo ra những loài cố định mới được thích nghi theo một môi trường thay đổi, bước đầu xác định rằng thảm hoạ gần đây nhất là trận Đại hồng thủy trong Kinh thánh [16]. Một số nhà giải phẫu học như Robert Grant bị ảnh hưởng bởi Lamarck và Geoffroy, nhưng hầu hết các nhà tự nhiên học coi những ý tưởng của họ về sự biến đổi loài như là một mối đe dọa đối với trật tự xã hội vốn được coi là thiêng liêng.[17]

Sự khởi đầu của học thuyết Darwin[sửa|sửa mã nguồn]

Tôi nghĩ… của Darwin. Bên dưới là cây tiến hóa đầu tiên của ông trong trang 36 của cuốn sổ “Chuyển đổi loài”Bản phác họa nổi tiếng : của Darwin. Bên dưới là cây tiến hóa tiên phong của ông trong trang 36 của cuốn sổDarwin đến Đại học Edinburgh năm 1825 để học về y khoa. Trong năm thứ hai của mình, ông bỏ những điều tra và nghiên cứu y học của mình để đến với lịch sử vẻ vang tự nhiên và đã dành bốn tháng tương hỗ cho điều tra và nghiên cứu của Robert Grant vào động vật hoang dã không xương sống ở biển. Grant bật mý sự nhiệt tình của ông so với yếu tố quy đổi loài, nhưng Darwin đã bác bỏ nó. [ 18 ] Từ năm 1827, tại Đại học Cambridge, Darwin học những môn khoa học như thần học tự nhiên từ nhà thực vật học John Stevens Henslow và đọc Paley, John Herschel và Alexander von Humboldt. Với đầy nhiệt huyết về khoa học, ông điều tra và nghiên cứu địa lý theo thuyết thảm họa với thầy Adam Sedgwick [ 19 ] [ 20 ] .

Tháng 12 năm 1831, ông gia nhập đoàn thám hiểm Beagle với tư cách nhà tự nhiên học và nhà địa chất học. Ông đọc Nguyên tắc Địa chất (Principles of Geology) của Charles Lyell và từ lần đầu ghé vào bờ biển tại St. Jago, ông thấy chủ nghĩa thống nhất của Lyell là chìa khóa để hiểu lịch sử địa chất của cảnh quan. Darwin tìm ra hóa thạch giống như con Glyptodon và ghi nhận sự phân bố địa lý của các loài hiện tại với hy vọng tìm ra “trung tâm sáng tạo” của chúng.[21] Ba người bản địa Fuegian, cùng đoàn thám hiểm, quay trở lại Tierra del Fuego, Darwin thấy họ là những người thân thiện và văn minh, nhưng họ hàng của họ trên hòn đảo thì “khổ sở, hoang dại” [22] và ông không còn nhìn thấy khoảng cách giữa người và động vật ở họ.[23] Khi Beagle gần Anh vào năm 1836, ông lưu ý rằng loài có thể không cố định.[24][25]

Richard Owen đã cho thấy hóa thạch của loài đã tuyệt chủng mà Darwin tìm thấy ở Nam Mỹ là họ hàng với những loài đang sống trên cùng lục địa. Vào tháng 3 năm 1837, nhà điểu học ( nghiên cứu và điều tra về chim ) John Gould công bố rằng loài đà điểu Nam Mỹ ( rhea ) của Darwin là một loài riêng không liên quan gì đến nhau với những loài đà điểu Nam Mỹ đã được miêu tả trước đây ( mặc dầu những vùng chủ quyền lãnh thổ của chúng chồng chéo nhau ), và những con chim nhại ở quần đảo Galápagos thực ra đại diện thay mặt cho ba loài riêng rẽ-mỗi loài đặc trưng cho một hòn hòn đảo, và thêm nữa, một vài loài chim khác nhau ở đây lại đều được phân loại là chim sẻ. [ 26 ] Darwin đã mở màn suy đoán, ghi lại trong một loạt những cuốn sổ ghi chép, về năng lực ” một loài biến thành một loài khác ” để lý giải những phát hiện này, vào khoảng chừng tháng Bảy, ông đã phác hoạ phân nhánh họ hàng trong một cây tiến hóa duy nhất, phủ định những dòng độc lập của Lamarck mà song song nhau tiến tới những dạng ‘ cao ‘ hơn [ 27 ] [ 28 ] [ 29 ] Trái với thông lệ, Darwin đã đặt câu hỏi về chim bồ câu và người gây giống động vật hoang dã cũng như những nhà khoa học. Tại vườn thú, ông đã có cái nhìn tiên phong về con vượn ( ape ), và đã rất ấn tượng khi thấy con đười ươi giống người như thế nào. [ 30 ]

Vào cuối tháng 9 năm 1838, ông bắt đầu đọc luận văn của Thomas Malthus về “Nguyên tắc Dân số” với lập luận thống kê rằng các quần thể con người, nếu không tự kiềm chế, vượt quá khả năng của mình và đấu tranh để tồn tại. Darwin liên tưởng đến cuộc đấu tranh cho sự tồn tại giữa các động vật hoang dã và cũng nhớ đến nhà thực vật học de Candolle với “chiến tranh các loài” ở thực vật; ông đã hình dung ngay “một sức mạnh như trăm ngàn cái nêm”, đẩy các biến thể thích nghi tốt vào “các khoảng trống trong nền kinh tế tự nhiên”, để sau đó, có những biến thể vượt qua được do có hình thứckhả năng để sống sót, và các biến thể bất lợi sẽ bị loại bỏ [31].[32][33] Vào tháng 12 năm 1838, ông đã ghi nhận sự giống nhau giữa hành động của người gây giống lựa chọn các tính trạng tốt và một môi trường tự nhiên theo kiểu Malthus, lựa chọn trong số các biến thể “ngẫu nhiên” để “mọi bộ phận của cấu trúc mới thu được là thực dụng và hoàn thiện”[34]

Darwin đã có khuôn cơ bản về triết lý tinh lọc tự nhiên của mình, nhưng ông đã trọn vẹn giữ sự nghiệp của mình với tư cách là một nhà địa chất học và chưa soạn thêm cho kim chỉ nan cho đến khi cuốn sách của ông về ” Cấu trúc và Phân bố Rạn sinh vật biển ” được hoàn thành xong [ 35 ] [ 36 ]. Như ông đã nhớ lại trong cuốn tự truyện của mình, ông đã ” ở đầu cuối có một triết lý để thao tác “, nhưng chỉ đến tháng 6 năm 1842 ông mới được cho phép mình có ” sự hài lòng khi viết một bản tóm tắt ngắn về kim chỉ nan của tôi bằng bút chì “. [ 37 ]

Phát triển học thuyết[sửa|sửa mã nguồn]

“Đa dạng của thực vật và động vật dưới tác động thuần hóa”, 1868Nghiên cứu của Darwin về hình dạng sọ chim bồ câu ở những giống khác nhau, hình vẽ từ cuốn, 1868

Darwin tiếp tục nghiên cứu và xem lại nhiều lần lý thuyết của mình trong khi vẫn tập trung vào công việc chính là xuất bản các kết quả khoa học của chuyến hải trình Beagle [35]. Ông đã dự kiến ​​viết về những ý tưởng của ông cho Lyell vào tháng 1 năm 1842,[38] vào tháng 6, ông đã bước đầu thảo ra “Phác thảo bút chì” (Pencil Sketch) dài 35 trang [39]. Darwin đã bắt đầu trao đổi về cách lý luận của mình với nhà thực vật học Joseph Dalton Hooker vào tháng 1 năm 1844, và vào tháng 7 đã mở rộng “Phác thảo” của mình thành một cuốn “Tiểu luận” (Essay) dài 230 trang được mở rộng với rất nhiều kết quả nghiên cứu và sẽ xuất bản nếu chẳng may ông mất sớm.[40]

Vào tháng 11 năm 1844, một cuốn sách khoa học phổ biến với tác giả ẩn danh “Tàn tích của Lịch sử Tự nhiên của Sáng thế” (Vestiges of the Natural History of Creation) (sau này họ biết cuốn sách được viết bởi nhà báo Scotland Robert Chambers) đã mở rộng mối quan tâm của công chúng đến khái niệm chuyển đổi loài. Quyển “Tàn tích” sử dụng bằng chứng từ hồ sơ hóa thạch và phôi thai để ủng hộ tuyên bố rằng sinh vật tiến triển từ đơn giản đến phức tạp hơn theo thời gian. Nhưng nó đề xuất một sự tiến triển tuyến tính hơn là lý thuyết phân nhánh từ tổ tiên chung mà Darwin đang phát triển, và nó đã bỏ qua việc thích nghi. Darwin đã đọc cuốn sách ngay sau khi xuất bản, ông khinh thường kiến thức hạng nghiệp dư trong địa chất học và động vật học của cuốn sách [41], nhưng ông cũng xem xét lại các tranh luận của mình sau khi các nhà khoa học hàng đầu, bao gồm Adam Sedgwick, tấn công các sai sót của cuốn sách, trong cả khoa học và đạo đức [42]. Quyển sách đã có ảnh hưởng đáng kể đến dư luận, và các cuộc tranh luận dữ dội đã giúp mở đường cho việc chấp nhận cuốn “Nguồn gốc các loài” sau này bằng cách chuyển các suy đoán tiến hóa thành xu thế chủ đạo. Trong khi một vài nhà tự nhiên học sẵn sàng xem xét về chuyển đổi loài, Herbert Spencer đã trở thành một người ủng hộ học thuyết Lamarck và phát triển tiến bộ trong thập niên 1850.[43]

Hooker đã được thuyết phục để lấy đi một bản sao của “Tiểu luận” vào tháng 1 năm 1847, và cuối cùng đã gửi một trang ghi chú cho Darwin với phản hồi quan trọng. Được nhắc nhở về việc thiếu chuyên môn trong phân loại học, Darwin đã bắt đầu một nghiên cứu kéo dài tám năm về loài hàu biển, và trở thành chuyên gia hàng đầu về phân loại chúng. Sử dụng lý thuyết của mình, ông khám phá ra rằng những bộ phận cơ thể khi thay đổi một chút sẽ phục vụ các chức năng khác nhau để đáp ứng các điều kiện mới và ông cũng tìm thấy một giai đoạn trung gian trong sự phân hóa giới tính khác biệt (Gonochorism) [44][45].

Các nghiên cứu và điều tra về hàu ở Darwin đã thuyết phục ông rằng sự đổi khác phát sinh liên tục và không chỉ riêng để cung ứng với những thực trạng đã đổi khác. Năm 1854, ông hoàn thành phần ở đầu cuối của bài viết tương quan đến Beagle và khởi đầu thao tác toàn tâm về tiến hóa. Giờ đây ông đã nhận ra rằng quy mô phân nhánh tiến hóa đã hoàn toàn có thể lý giải bằng cách tinh lọc tự nhiên thao tác không ngừng để cải thiện sự thích ứng. Tư tưởng của ông đổi khác từ quan điểm cho rằng những loài chỉ được hình thành trong những quần thể khác biệt, như trên những hòn hòn đảo, sang nhấn mạnh vấn đề vào sự phân bổ mà không bị cô lập ; đó là, ông đã tận mắt chứng kiến ​ ​ sự ngày càng tăng mức độ chuyên hóa trong những quần thể không thay đổi lớn khi liên tục khai thác những ổ sinh thái xanh mới. Ông đã thực thi điều tra và nghiên cứu thực nghiệm tập trung chuyên sâu vào những khó khăn vất vả với kim chỉ nan của mình. Ông đã nghiên cứu và điều tra sự độc lạ về tăng trưởng và giải phẫu giữa những giống vật nuôi khác nhau, tham gia tích cực trong việc tạo giống chim bồ câu ưa thích, và thử nghiệm ( với sự trợ giúp của con trai Francis ) về những phương pháp mà hạt giống và động vật hoang dã hoàn toàn có thể phân tán ra biển để định cư những hòn hòn đảo xa xôi. Vào năm 1856, kim chỉ nan của ông phức tạp hơn nhiều, với rất nhiều chứng cứ tương hỗ [ 44 ] [ 46 ] .

Thời gian đi đến xuất bản[sửa|sửa mã nguồn]

Trong cuốn tự truyện của mình, Darwin nói rằng ông đã ” nhận được rất nhiều bởi sự trì hoãn của tôi trong xuất bản từ năm 1839, khi kim chỉ nan đã được thành hình, đến năm 1859, và tôi không mất gì bởi sự trì hoãn này ” [ 47 ]. Trên trang tiên phong của cuốn sách năm 1859, ông chú ý quan tâm rằng, khi mở màn khu công trình về chủ đề này vào năm 1837, ông đã soạn ” một số ít ghi chép ngắn ” sau năm năm, rồi lan rộng ra ra thành một phác thảo vào năm 1844, và ” từ lúc đó đến nay, tôi đã luôn theo đuổi cùng một mục tiêu đó ” [ 48 ] [ 49 ] .Các nhà viết tiểu sử khác nhau đã đề xuất kiến nghị rằng Darwin đã tránh hoặc hoãn công khai minh bạch sáng tạo độc đáo của mình vì nguyên do cá thể. Những nguyên do được gợi ý hoàn toàn có thể kể đến như sự sợ hãi về khủng bố tôn giáo hoặc sự ruồng bỏ khỏi xã hội nếu quan điểm của ông được bật mý, và lo ngại sẽ gây stress với những người bạn là những nhà tự nhiên theo tôn giáo hoặc người vợ sùng đạo Emma. Bệnh của Charles Darwin cũng gây ra sự trì hoãn nhiều lần. Bài viết của ông về vùng Glen Roy ( Scotland ) bị chứng tỏ là sai một cách khá bồn chồn, và ông hoàn toàn có thể muốn chắc như đinh rằng ông đã đúng. Học giả người Mỹ David Quammen đã gợi ý rằng tổng thể những yếu tố này hoàn toàn có thể đã góp phần vào sự trì hoãn, và quan tâm rằng Darwin viết rất nhiều sách và đời sống mái ấm gia đình khá bận rộn trong khoảng chừng thời hạn đó [ 50 ] .

Một nghiên cứu mới đây của nhà sử học khoa học John van Wyhe đã nhận định rằng ý tưởng Darwin trì hoãn xuất bản chỉ bắt đầu từ những năm 1940, và những người đương thời của Darwin nghĩ rằng thời gian ông đã làm là hợp lý. Darwin luôn hoàn thành một cuốn sách trước khi bắt đầu một cuốn khác. Trong khi ông đang nghiên cứu, ông nói với nhiều người về sự quan tâm của ông trong chuyển đổi loài mà không gây ra sự phẫn nộ. Ông đã kiên quyết xuất bản, nhưng phải đến tháng 9 năm 1854 ông mới có thể làm việc toàn thời gian. Năm 1846, ông ước tính rằng: việc viết “cuốn sách lớn” của ông sẽ phải mất năm năm mới trở nên lạc quan.[48]

Sự kiện dẫn đến xuất bản bản thảo của ” cuốn sách lớn “[sửa|sửa mã nguồn]

Một bài báo về ” trình làng ” những loài được viết bởi Alfred Russel Wallace vào năm 1855 cho thấy những mẫu hình phân bổ địa lý của những loài còn sống và hóa thạch hoàn toàn có thể được lý giải nếu mọi loài mới luôn Open gần những loài đã và đang sống sót, có họ hàng thân thiện với nhau nhau, [ 51 ] Charles Lyell ngầm hiểu ý nghĩa của bài báo của Wallace và mối liên hệ hoàn toàn có thể có so với tác phẩm của Darwin, mặc dầu Darwin đã không làm như vậy, và trong một lá thư viết ngày 1-2 tháng 5 năm 1856 Lyell lôi kéo Darwin xuất bản kim chỉ nan của mình để thiết lập quyền ưu tiên. Darwin đã bị giằng xé giữa mong ước đưa ra một bản tường trình vừa đủ và thuyết phục với áp lực đè nén để nhanh gọn viết nên một bài báo ngắn. Ông đã gặp Lyell, và trao đổi thư từ với Joseph Dalton Hooker chứng minh và khẳng định rằng ông không muốn bật mý những sáng tạo độc đáo của ông trên báo để được biên tập viên xem xét mà ông muốn xuất bản trong một tạp chí học thuật. Ông đã khởi đầu một ” phác thảo ” bài viết vào ngày 14 tháng 5 năm 1856, và vào tháng 7 ông đã quyết định hành động trình ra một luận án khá đầy đủ về loài như ‘ cuốn sách lớn ‘ của mình về tinh lọc tự nhiên. Lý thuyết của ông gồm có nguyên tắc phân kỳ di truyền triển khai xong vào ngày 5 tháng 9 năm 1857 khi ông gửi cho Asa Gray một bản tóm tắt ngắn gọn nhưng cụ thể về những ý tưởng sáng tạo của ông [ 52 ]. [ 53 ]

Hợp tác xuất bản những bài báo của Wallace và Darwin[sửa|sửa mã nguồn]

Darwin đã làm việc rất vất vả trên bản thảo cho “cuốn sách lớn” của ông về chọn lọc tự nhiên, vào ngày 18 tháng 6 năm 1858, ông nhận được một bưu kiện từ Wallace, đang ở lại quần đảo Maluku (Ternate và Gilolo). Nó kèm theo 20 trang mô tả một cơ chế tiến hóa, một phản ứng đối với sự khích lệ gần đây của Darwin, với thêm một yêu cầu là gửi nó tới Lyell nếu Darwin nghĩ nó có giá trị. Cơ chế này tương tự như lý thuyết của Darwin [52]. Darwin đã viết cho Lyell rằng “những lời ông nói đã trở thành hiện thực ở mức thực không ngờ tới,… bị chặn trước” và ông sẽ “tất nhiên, ngay lập tức viết thư và đề nghị gửi tới bất kỳ tạp chí nào” mà Wallace chọn, và nói thêm rằng “rồi thì tất cả những gì gốc gác của tôi sẽ tan nát hết”.[54] Lyell và Hooker đồng ý sẽ có một ấn bản chung với các trang của Wallace với trích đoạn từ “Tiểu luận” năm 1844 của Darwin và lá thư năm 1857 của ông tới Gray được trình bày tại Hội Linnean. Ngày 1 tháng 7 năm 1858, bài báo đã ra đời với tựa đề Về xu hướng các loài để hình thành giống; và về sự vĩnh viễn của các giống và loài theo phương pháp tự nhiên của chọn lọc, đề tên Wallace và Darwin tương ứng. Bài báo đã được xuất bản nhưng đã gây ra ít phản ứng. Trong khi Darwin coi ý tưởng của Wallace là giống hệt với khái niệm chọn lọc tự nhiên, nhưng các sử gia đã chỉ ra sự khác biệt. Darwin miêu tả việc lựa chọn tự nhiên là tương tự như việc lựa chọn nhân tạo được thực hiện bởi các nhà nhân giống động vật, và nhấn mạnh sự cạnh tranh giữa các cá thể; Wallace đã không so sánh với việc chọn lọc giống, mà tập trung vào áp lực sinh thái mà giữ các giống khác nhau phù hợp với điều kiện địa phương.[55][56][57] Một số sử gia đã gợi ý rằng Wallace thực ra thảo luận về việc chọn lọc nhóm hơn là chọn lọc tác động lên từng biến dị ở cá thể [58].

Tóm tắt cuốn sách về những loài[sửa|sửa mã nguồn]

Ngay sau cuộc hội ngộ, Darwin đã quyết định hành động viết ” một bản tóm tắt về hàng loạt tác phẩm của tôi ” dưới hình thức một hoặc nhiều bài báo do Hội Linne xuất bản, nhưng chăm sóc đến ” làm thế nào hoàn toàn có thể viết một bài khoa học cho Nhật báo, mà không đưa ra thực tiễn, thật là bất khả thi “. Ông đã hỏi Hooker hoàn toàn có thể sẵn bao nhiêu trang, nhưng ” Nếu bên kiểm duyệt khước từ nó và coi như là không khoa học, tôi, có lẽ rằng sẽ xuất bản nó như cuốn sách mỏng dính. ” [ 59 ] [ 60 ] Ông mở màn viết ” tóm tắt của những loài ” vào ngày 20 Tháng 7 năm 1858, khi đang nghỉ tại Sandown. [ 61 ] Ông cũng viết lại một phần của bản tóm tắt từ những gì ông nhớ và gửi bản thảo cho bè bạn của mình để kiểm tra [ 62 ] .

Vào đầu tháng 10, ông bắt đầu “mong đợi bản tóm tắt của tôi sẽ được chia vào các quyển nhỏ, và được xuất bản riêng rẽ” [63]. Cùng thời gian đó, ông tiếp tục thu thập thông tin và viết các phần đầy đủ chi tiết của bản thảo cho “quyển sách lớn” của ông về các loài, bản thảo Chọn lọc Tự nhiên [59].

Murray là nhà xuất bản ; lựa chọn tựa sách[sửa|sửa mã nguồn]

Vào giữa tháng 3 năm 1859 bản tóm tắt của Darwin đã đến giai đoạn mà ông nghĩ đến việc công bố sớm; Lyell đề cử nhà xuất bản John Murray, và cũng đến gặp ông ấy để xem liệu ông John sẵn sàng xuất bản. Vào ngày 28 tháng 3, Darwin đã viết thư cho Lyell hỏi về tiến độ và nói Lyell có thể đảm bảo với Murray rằng “sách của tôi không bất-chính-thống hơn so với vấn đề đã đi đến tất yếu.” Ông đã bọc lại bản thảo với đề xuất cho tiêu đề là Một bản tóm tắt của một bài tiểu luận về nguồn gốc của các loài và chủng loại thông qua sự chọn lọc tự nhiên, với năm được đề là “1859”.[64][65]

Phản ứng của Murray rất thuận lợi, và Darwin đã rất vui mừng nói với Lyell vào ngày 30 tháng 3 rằng ông sẽ “gửi ngay một gói lớn của M.S. nhưng tiếc là tôi không thể trong một tuần, vì ba chương đầu tiên nằm trong ba tay người chép sách”. Ông đành nhường trước sự phản đối của Murray về “tóm tắt” trong tựa đề, mặc dù ông cảm thấy tiếc vì thiếu tài liệu tham khảo, nhưng muốn giữ lại “chọn lọc tự nhiên” là “thường xuyên được sử dụng trong tất cả các phần về Chăn nuôi” và hy vọng “giữ nó với Giải thích, phần nào như vậy “, – Thông qua chọn lọc tự nhiên hay sự bảo tồn các chủng ưu thế.[66] [65] Vào ngày 31 tháng 3, Darwin đã viết thư cho Murray xác nhận và liệt kê các đề mục trong 12 chương đang tiến hành: ông đã thảo tất cả ngoại trừ “XII Tóm lược và kết luận” [66]. Murray đã hồi âm ngay lập tức với một thỏa thuận để xuất bản cuốn sách với cùng các điều khoản như ông từng xuất bản sách của Lyell mà chưa hề nhìn thấy bản thảo: ông thỏa thuận sẽ chia cho Darwin 2/3 lợi nhuận [67]. Darwin nhanh chóng chấp nhận với niềm vui, nhấn mạnh rằng Murray có thể tự do rút lại thỏa thuận nếu khi đọc các bản thảo của từng chương, ông cảm thấy cuốn sách không bán được. [68] (cuối cùng Murray đã trả cho Darwin 180 bảng cho Darwin cho lần xuất bản đầu tiên và khi Darwin qua đời vào năm 1882, cuốn sách được tái bản lần thứ 6, kiếm được Darwin gần 3000 bảng Anh [69]).

Vào ngày 5 tháng 4, Darwin đã gửi Murray ba chương đầu tiên, và một đề xuất về tên sách [70]. Một trang tiêu đề dự định ban đầu là Về sự biến động của các loài. [71] Murray thận trọng hỏi Whitwell Elwin để xem lại các chương [58]. Theo gợi ý của Lyell, Elwin đã khuyến cáo rằng, thay vì “đưa ra lý thuyết mà không có bằng chứng”, cuốn sách nên tập trung vào các quan sát về chim bồ câu, từ đó nêu rõ ràng và ngắn gọn những nguyên tắc tổng quát của Darwin và chuẩn bị cho công trình lớn hơn dự kiến ​​sau này. Ông viết “Ai cũng quan tâm đến chim bồ câu. “Darwin trả lời rằng điều này là không thực tế: ông chỉ có chương cuối cùng vẫn còn để viết. Vào tháng Chín, tiêu đề chính vẫn là “Một bài luận về nguồn gốc của các loài và các giống”, nhưng Darwin đã đề xuất bỏ “các giống” [74].

Với sự thuyết phục của Murray, tiêu đề cuối cùng đã được đồng ý là Nguồn gốc các loài, với trang tiêu đề mở rộng là Về nguồn gốc các loài thông qua chọn lọc tự nhiên, hay việc gìn giữ các chủng ưu thế thông qua cuộc đấu tranh sinh tồn. [3] Trong tiêu đề mở rộng này (và những nơi khác trong cuốn sách) Darwin đã sử dụng thuật ngữ sinh học “chủng” thay thế cho “giống”, với nghĩa là biến thể trong một loài [75] [76]. Ông đã sử dụng 2 thuật ngữ này rộng rãi [77], chẳng hạn như thảo luận về “một số chủng tộc, ví dụ như cải bắp” và “các giống truyền thống hay chủng loại động vật và thực vật trong nước của chúng ta”, [78] có ba trường hợp trong sách mà cụm từ “chủng tộc con người” được sử dụng, đề cập đến loài người. [79]

Xuất bản và chỉnh sửa sau đó[sửa|sửa mã nguồn]

Nguồn gốc các loài đã được phát hành lần đầu tiên vào thứ năm ngày 24 tháng 11 năm 1859, với giá mười lăm shilling (si-linh) một ấn bản, 1250 bản đã được in lần đầu. [80] Cuốn sách đã được cung cấp cho các nhà bán sách tại khu bán đồ mùa thu của Murray vào thứ ba trước đó 3 ngày. Tất cả các bản sao có sẵn đã được mua hết ngay lập tức. Tổng cộng đã có 1.250 bản được in nhưng sau khi trừ các bản trưng bày và bản đánh giá, và năm bản nộp đến Sở Stationers để lấy bản quyền xuất bản, còn lại 1.170 bản có sẵn để bán. [2] Đáng kể là, 500 bản đã được thư viện của Charles E. Mudie lấy, để đảm bảo rằng cuốn sách có thể nhanh chóng tiếp cận được một lượng lớn hội viên trong thư viện [81]. Lần in thứ hai với 3.000 bản được trình ra nhanh chóng vào ngày 7 tháng 1 năm 1860. Lần in này đã tích hợp nhiều chỉnh sửa cũng như phản ứng đối với các phe đối lập tôn giáo bằng cách bổ sung một bản khắc mới ở trang ii bằng một trích dẫn từ Charles Kingsley và thêm cụm từ “bởi Đấng Tạo Hóa” thêm vào câu kết thúc [83]. Trong suốt cuộc đời của Darwin, cuốn sách đã trải qua sáu phiên bản, tích hợp những sửa đổi và những xem xét lại để đối phó với những lập luận phản đối được nêu ra. Lần in thứ ba ra đời vào năm 1861, với một số câu được viết lại hoặc bổ sung và một phụ lục giới thiệu, Một phác họa lịch sử về tiến trình gần đây của ý kiến ​​về nguồn gốc các loài, [84], trong khi lần thứ tư năm 1866 lại có những xem xét lại. Lần in thứ năm, được xuất bản vào ngày 10 tháng 2 năm 1869, có nhiều thay đổi hơn và lần đầu sử dụng cụm từ “sự sống sót của các loài thích nghi nhất” (survival of the fittest), được triết gia Herbert Spencer đặt ra trong Các nguyên lý Sinh học (1864) của ông. [85

Vào tháng 1 năm 1871, cuốn Sự phát sinh loài của George Jackson Mivart liệt kê các luận cứ chi tiết đối với chọn lọc tự nhiên, và tuyên bố nó chỉ là siêu hình và đã sai lầm [86]. Darwin đã có những chỉnh sửa quy mô lớn cho lần ấn bản lần thứ sáu của Nguồn gốc các loài (đây là ấn bản đầu tiên trong đó ông sử dụng từ “tiến hóa”, thường được sử dụng khi nói đến sự phát triển phôi thai, mặc dù tất cả các phiên bản kết luận với từ “đã tiến hóa” [87] [88 ], và thêm vào một chương mới VII, Những phản đối khác, để giải quyết tranh cãi của Mivart [2] [89]

Ấn bản thứ sáu đã được Murray xuất bản vào ngày 19 tháng 2 năm 1872 với tiêu đề chỉnh sửa một chút ít, từ ” On ” được bỏ trong tiêu đề tiếng Anh [ 67 ]. Darwin đã nói với Murray rằng những người đàn ông thao tác tại Lancashire đã góp nhau mua ấn bản thứ năm với giá 15 si-linh ; và ông muốn nó được phổ cập thoáng đãng hơn ; giá đã giảm 50% xuống còn 7 si-linh 6 xu bằng cách in với một phông chữ nhỏ hơn. Nó cũng thêm một bảng chú giải thuật ngữ được biên soạn bởi W.S. Dallas. Doanh số bán sách đã tăng từ 60 lên 250 mỗi tháng [ 3 ] [ 89 ] .

Xuất bản bên ngoài Vương quốc Anh[sửa|sửa mã nguồn]

Tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, nhà thực vật học Asa Gray, một đồng nghiệp người Mỹ của Darwin, đã đàm phán với một nhà xuất bản Boston để xuất bản một phiên bản Mỹ có bản quyền đầy đủ, nhưng đã thấy được rằng hai hãng xuất bản ở New York đã lên kế hoạch khai thác sự lỏng lẻo ở bản quyền quốc tế để in Nguồn gốc. [90] Darwin rất vui vì sự phổ biến của cuốn sách, và nói với Gray giữ mọi lợi nhuận nếu có. [91] Gray đã thương lượng 5% tiền bản quyền với Appleton ở New York [92], người đã xuất bản vào giữa tháng 1 năm 1860, trong khi hai người kia rút lui. Trong một lá thư tháng năm, Darwin đã đề cập đến một lần ấn bản gồm 2.500 bản, nhưng không rõ là liệu nó có liên quan tới việc in ấn đầu tiên chỉ có bốn vào năm đó [2]. [93]

Cuốn sách được dịch ra nhiều thứ tiếng trong cuộc sống của Darwin, nhưng những yếu tố phát sinh khi dịch những khái niệm và ẩn dụ, và một số ít bản dịch đã bị mất trung lập bởi lý sự của người dịch [ 94 ]. Darwin phân phát những bản tọa lạc tại Pháp và Đức, với kỳ vọng rằng những người ĐK thích hợp sẽ Open, vì những dịch giả dự kiến ​ ​ sẽ tự sắp xếp với một nhà xuất bản địa phương. Ông hoan nghênh Heinrich Georg Bronn – nhà tự nhiên học và nhà địa chất học cao tuổi sẽ dịch tác phẩm, nhưng bản dịch tiếng Đức xuất bản vào năm 1860 đã đưa thêm những sáng tạo độc đáo của Bronn, thêm những chủ đề gây tranh cãi mà Darwin đã cố ý bỏ lỡ. Bronn dịch những ” chủng lợi thế ” là ” chủng triển khai xong “, và thêm những bài tiểu luận về những yếu tố gồm có nguồn gốc của đời sống, cũng như một chương sau cuối với những tương quan đến tôn giáo được lấy cảm hứng từ sự tham gia Bronn theo phe phái Triết học Tự nhiên [ 95 ]. Năm 1862, Bronn xuất bản lần thứ hai dựa trên ấn bản tiếng Anh thứ ba và bổ trợ yêu cầu của Darwin, nhưng ông mất vì một cơn đau tim khi việc làm còn dang dở [ 96 ]. Darwin đã liên hệ ngặt nghèo với Julius Victor Carus, người đã xuất bản một bản dịch được cải tổ vào năm 1867. [ 97 ] Những cố gắng nỗ lực của Darwin để tìm một người phiên dịch ở Pháp đã thất bại, bản dịch của Clémence Royer xuất bản vào năm 1862 thì thêm vào một lời ra mắt ca tụng những ý tưởng sáng tạo của Darwin là một sự thay thế sửa chữa cho mặc khải tôn giáo và thôi thúc những sáng tạo độc đáo tiên đoán chủ nghĩa Darwin trong xã hội và thuyết ưu sinh cũng như thêm nhiều câu vấn đáp của chính cô cho những hoài nghi mà Darwin đã biểu lộ. Darwin đã trao đổi với Royer về ấn bản thứ hai xuất bản năm 1866 và một thứ ba vào năm 1870, nhưng ông đã gặp khó khăn vất vả trong việc gỡ những phần thêm vào của cô và gặp rắc rối với những ấn bản này. [ 96 ] [ 98 ] Ông không hài lòng cho đến khi bản dịch của Edmond Barbier được xuất bản năm 1876. [ 2 ] Một bản dịch tiếng Hà Lan của Tiberius Cornelis Winkler đã được xuất bản năm 1860. [ 99 ] Đến năm 1864, bản dịch bổ trợ đã Open ở Ý và Nga [ 94 ]. Trong suốt cuộc sống của Darwin, Origin đã được xuất bản bằng tiếng Thụy Điển vào năm 1871, [ 100 ] Đan Mạch năm 1872, Ba Lan năm 1873, Hungarian năm 1873 – 1874, Tây Ban Nha năm 1877 và Serbian năm 1878. Đến năm 1977, nó Open trong 18 ngôn từ khác. 101 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

  • The complete work of Charles Darwin online: Table of contents, bibliography of On the Origin of Species:
    Both web pages provide links to text and images of all editions of The Origin of Species, including translations in German, Danish, and Russian.
Các nguồn khác:

Source: https://vvc.vn
Category : Thế giới

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM